Hiển thị các bài đăng có nhãn mien-trung. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn mien-trung. Hiển thị tất cả bài đăng

Vẻ đẹp phố cổ Hội An

Hội An trở thành dấu son trên bản đồ du lịch không phải chỉ là những ngôi nhà cổ hay không gian hoài niệm. Nơi ấy có bề dày vẻ đẹp văn hóa đa dạng của thương cảng cổ từng ghi dấu mối giao lưu, tiếp biến nhiều nền văn hóa. Nơi đó là sự hòa trộn sự trải nghiệm cùng nết ăn, ở và sống, vui giữa thiên nhiên mơ mộng hay giữa những người từ làng hay lên phố.

Những chiếc đèn lồng lung linh, sắc nâu của nhà cổ và cả những đôi dép cói là hình ảnh đặc trưng của phố cổ Hội An (tỉnh Quảng Nam). Đi dạo trên xe đạp, trong sớm mai hay những buổi chiều tà, bạn sẽ có cảm giác bình yên.

đèn lồng hội an, vẻ đẹp Hội an, vẻ đẹp việt
 Đèn lồng và xe đạp là hình ảnh quen thuộc ở Hội An.

nhà cổ hội an, vẻ đẹp Việt nam
Sắc nâu của nhà cổ, sắc đỏ của đèn lồng và màu xanh miên man của bầu trời.

Góc phố Hội an, vẻ đẹp Hội An
Du khách có thể tự tay làm một món quà tặng người thân.

đèn lồng Việt nam, vẻ đẹp Hội an
Ban ngày, đèn lồng rực rỡ khắp nơi…

chiều Hội an, vẻ đẹp chiều
… và lung linh khắp những con phố nho nhỏi xinh xắn.

Dãy phố hội an, nét đẹp Việt
Dạo phố bằng xe đạp cũng đem lại những niềm vui riêng.

Ngôi nhà cổ, việt nam độc đáo
Góc phố này đã xuất hiện trong phim : "Dòng máu anh hùng”.

sông nước Hội an, vẻ đẹp Hội an
Bạn có thể ngồi bên bến cảnh Hội An, ngắm nhìn những con thuyền lững lờ lướt qua.

tranh ảnh, nét đẹp Hội An, Việt nam
Hình ảnh con người Hội An được thể hiện ở những bức tranh bán tại các gallery ở Hội An.

dép Hội an, tre xanh Việt nam, vẻ đẹp Việt
Ngoài đèn lồng, những đôi dép cói cũng được du khách chọn làm quà cho người thân.

Không phải ngẫu nhiên Hội An luôn được bình chọn vào top 10 điểm du lịch hấp dẫn nhất thế giới, bởi sở hữu cùng lúc các giá trị tổng hợp về biển, đảo và ẩm thực đường phố ngon thuộc hàng danh tiếng. Nhưng, chính công sức của nhân dân, những chủ nhân thực sự của di sản mới thực sự làm nên thương hiệu du lịch Hội An! Sức hấp dẫn của món bánh xèo, của mỳ Quảng, cao lầu... đã ngon miệng, no mắt lại càng làm say lòng người. Còn biển, đảo hoang sơ hút hồn vì sự sạch sẽ và nụ cười tươi tắn, thân thiện luôn nở trên môi người phố cũ…

Theo: Vnexpress

Núi Vọng Phu (Thanh Hóa): Biểu tượng chung thủy của người phụ nữ

Đến Thanh Hóa, bạn sẽ thấy trên đỉnh núi Nhồi một cột đá đứng sững cao khoảng 20m giống hình người phụ nữ ôm con, dân địa phương gọi là hòn Vọng Phu. Thuộc xã Đông Hưng, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hóa 3km về phía Tây Nam, nay là phường An Hoạch, Thành phố Thanh Hóa, hình tượng này gắn với truyền thuyết người đàn bà chung thủy chờ chồng đến hóa đá.

nét đẹp Thanh Hóa, vẻ đẹp Việt Nam


Núi Vọng Phu là một ngọn núi đá vôi được thiên nhiên tạo nên hình một người phụ nữa đang quay mặt về phía biển Đông. Hình tượng này gắn với truyền thuyết người đàn bà chung thuỷ chờ chồng đến hoá đá. Chóp núi Vọng Phu là một khối đá hoa cương khổng lồ, đứng thẳng lên trời, bên cạnh lại có một khối đá khác nhỏ hơn. Hai khối đá này tương tự hình người, từ xa khoảng 50km vẫn còn trông rõ hình tượng người mẹ hóa đá đang bồng đứa con, phóng tầm mắt ra biển khơi mong chờ người chồng trong vô vọng.

Tương truyền có 2 vợ chồng trẻ sanh được 1 đứa con gái 4 tuổi, một hôm người chồng bàn với vợ rằng ở trên núi cao có cây dó là đất đai của Bà Thiên Y A Na (Bà Chúa Ngọc) rất linh thiêng, chàng muốn lên đó để tìm của kỳ nam mang về bán làm chút vốn làm ăn hầu thay đổi cuộc sống lam lũ hiện tại. Ðược vợ đồng ý chàng sửa soạn hành lý, trên lưng địu một gùi lương khô, tay cầm rìu, rựa, miệng ngậm ngãi từ biệt vợ con ra đi. Nhưng ngày qua tháng lại... chẳng thấy chàng trở về, hai mẹ con chiều chiều dắt nhau lên đầu núi ngóng trông rồi hóa đá thành núi Mẫu Tử.

Một tương truyền khác nói rằng ngày xưa có 2 vợ chồng tiều phu hiếm muộn đã đi cầu tự khắp các đền chùa, cuối cùng sinh được 1 cô gái dễ thương và qua năm sau sinh tiếp 1 cậu trai kháu khỉnh. Một ngày nọ 2 chị em róc mía ăn và tranh giành với nhau. Sao đó, đứa em lỡ tay làm trúng 1 dao lên đầu chị máu ra lai láng... vì sợ quá nên bỏ nhà trốn biệt. Cha mẹ tìm mãi vẫn không thấy con đâu, buồn khổ rồi qua đời, bỏ lại cô con gái chỉ có 1 mình bơ vơ nên cũng bỏ xứ ra đi. Ðứa em trai từ lúc bỏ chạy tới mé biển gặp một chiếc thuyền buôn, xin theo và sống rày đây mai đó... về sau trở thành một thương nhân khá giả. Một hôm chạnh lòng nhớ cố hương mới tìm đường trở về quê cũ, nhưng chẳng còn ai nên cũng bỏ ra đi. Ði đến một thung lũng chàng gặp một cô gái, 2 người thương nhau rồi kết thành vợ chồng sanh được 1 bé gái xinh đẹp gia đình sống rất đầm ấm hạnh phúc. Một hôm người vợ ngồi gội đầu... người chồng nhìn thấy 1 vết sẹo trên đầu vợ mới hỏi nguyên do, nàng thành thật kể lại đầu đuôi câu chuyện... Chàng chết điếng khi biết người đầu ấp tay gối bấy lâu nay chính là chị ruột của mình nên đau khổ bỏ đi. Nàng chẳng hiểu vì sao... mới nhờ người tìm kiếm khắp nơi nhưng chẳng thấy tăm hơi, cuối cùng bồng con lên núi ngóng trông rồi hóa thạch thành núi Mẹ Bồng Con.

Một huyền thoại khác kể rằng ngày xưa có một "chàng tuồi trẻ vốn dòng hào kiệt " yêu một cô gái nết na, xinh đẹp nhất vùng. Họ kết duyên với nhau và sống quấn quít bên nhau rất hạnh phúc, nàng dệt cửi quay tơ, chàng dùi mài kinh sử chờ ngày ra Kinh Ðô ứng thí. Khi nàng sanh được 1 đứa con gái xinh xắn thì quân giặc tràn đến xâm lấn cõi bờ. Chàng trai đành xếp bút nghiên, từ tạ người vợ trẻ lên đường ra biên ải rồi hy sinh ngoài chiến địa. Ở quê nhà nàng chinh phụ ôm con đợi chờ rồi hóa đá thành núi Vọng Phu, những giọt lệ của nàng rơi xuống hóa thành sông, có tên là sông Cái chảy vào sông Dinh để ra biển.

nét đẹp Thanh Hóa, văn hóa Việt Nam

Hình ảnh núi Vọng Phu cũng vì thế mà trở thành biểu tượng đẹp, thành đề tài trong các câu hát dân gian xưa cũng như trong những sáng tác văn chương nhạc hoạ của các nghệ sĩ sau này.

Bao năm đâu quản gió mưa,
Bồng con đứng đợi vẫn chưa thấy về,
Thời gian phai xóa lời thề,
Mẹ con hóa đá bên lề tháng năm.

(Bình Nguyên Lộc)

Hay :

Bồng con ngồi dựa trên non
Trăng thu vằng vặc dạ còn nhớ trông

Riêng những người đi biển thì lại có cách nhì khác, họ đã thánh hóa nàng Vọng Phu thành một Nữ Thần luôn giúp đỡ họ trong cuộc hành trình:

Lạy Bà, Bà cả gió đông
Cho thuyền tôi chạy cho chồng Bà lên
Lạy Bà, Bà nổi gió nồm
Chồng Bà ở Quảng giong buồm theo vô

Bonus: Người đàn bà hóa đá (Bức Tường)

Nguồn: Tổng hợp

Đôi nét về Tháp Chàm - Mỹ Sơn

Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, cách thành phố Ðà Nẵng khoảng 70 km về phía tây nam, cách Trà Kiệu khoảng 10 km về phía tây trong một thung lũng kín đáo.


Mỹ Sơn là thánh địa Ấn Độ giáo của vương quốc Chămpa. Những dòng chữ ghi trên tấm bia  sớm nhất ở Mỹ Sơn, có niên đại khoảng thế kỷ thứ 4 cho biết vua Bhadresvara đã xây dựng một ngôi đền để dâng cúng vua thần Siva- Bhadresvara. Hơn hai thế kỷ sau đó, ngôi đền đầu tiên được xây dựng bằng gỗ đã bị thiêu huỷ trong một trận hỏa hoạn lớn.


Vào đầu thế kỷ thứ 7, vua Sambhuvarman đã xây dựng lại ngôi đền bằng những vật liệu bền vững hơn, còn tồn tại đến ngày nay. Các triều vua sau đó đều tu sửa các đền tháp cũ và xây dựng đền tháp mới để dâng lên các vị thần của họ.


Với hơn 70 công trình kiến trúc bằng gạch đá, được xây dựng từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 13, Mỹ Sơn trở thành trung tâm kiến trúc quan trọng nhất của Vương quốc Chămpa. Những đền thờ chính ở Mỹ Sơn thờ một bộ Linga hoặc hình tượng của thần Siva – Ðấng bảo hộ của các dòng vua Chămpa. Vị thần được tôn thờ ở Mỹ Sơn là Bhadrésvara, là vị vua đã sáng lập dòng vua đầu tiên của vùng Amaravati vào cuối thế kỷ 4 kết hợp với tên thần Siva, trở thành tín ngưỡng chính thờ thần – vua và tổ tiên hoàng tộc.


Vào năm 1898, di tích Mỹ Sơn được phát hiện bởi một học giả người Pháp tên là M.C Paris. Vào những năm đầu thế kỷ XX này, 2 nhà nghiên cứu của Viễn thông Pháp là L.Finot và L.de Lajonquière và nhà kiến trúc sư kiêm khảo cổ học H. Parmentier đã đến Mỹ Sơn để nghiên cứu văn bia và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chăm. Cho đến những năm 1903-1904 những tài liệu cơ bản nhất về bia ký và nghệ thuật kiến trúc Mỹ Sơn đã được L.Finot chính thức công bố.


Tiền thân của quần thể kiến trúc Mỹ Sơn cổ kính này, theo căn bia để lại là một ngôi đền làm bằng gỗ để thờ thần Diva Bhadresvera. Nhưng đến khoảng cuối thế kỷ VI, một cơn hoả hoạn đã thiêu cháy ngôi đền gỗ. Bức màn lịch sử đã được các nhà khoa học vén dần lên thông qua những bia ký và lịch sử nhiều triều đại xưa cho ta thấy Mỹ Sơn là khu thánh địa quan trọng nhất của dân tộc Chăm suốt từ cuối tế kỷ IV đến thế kỷ XV. Bằng vật kiệu gạch nung và đá sa thạch, trong nhiều thế kỷ người Chăm đã dựng lên một quần thể kiến trúc đền tháp độc đáo, liên hoàn: Ðền chính thờ Linga-Yoni biểu tượng của năng lực sáng tạo. Bên cạnh tháp chính (Kalan) là những tháp thờ nhiều vị thần khác hoặc thờ những vị vua đã mất. Mặc dù thời gian cùng chiến tranh đã biến nhiều khu tháp thành phế tích nhưng những hiện vật điêu khắc, kiến trúc còn lại cho đến ngày nay vẫn còn để lại những phong cách giai đoạn lịch sử mỹ thuật dân tộc Chăm, những kiệt tác đánh dấu một thời huy loàng của văn hoá kiến trúc chămpa cũng như của Đông Nam Á
Mỗi thời kỳ lịch sử, kiến trúc mang phong cách riêng, cũng như mỗi đền tháp thờ những vị thần, những triều vua khác nhau tạo nên đường nét kiến trúc đầy dấu ấn, nhưng nhìn chung tháp Chàm đều được xây dựng trên một mặt bằng tứ giác, chia làm 3 phần: Ðế tháp biểu hiện thế giới trần gian, vững chắc. Thân tháp tượng hình của thế giới thần linh, kỳ bí mê hoặc. Phần trên cùng là hình người dâng hoa trái theo nghi lễ hoặc hình cây lá, chim muông, voi, sư tử… động vật gần gũi với tôn giáo và cuộc sống con người.


Theo các nhà nghiên cứu tháp Chàm cổ, nghệ thuật kiến trúc tháp Chàm tại Mỹ Sơn hội tụ được nhiều phong cách; mang tính liên tục từ phong cách cổ thế kỷ VII đến thế kỷ VIII; phong cách Hoà Lai thế kỷ VIII đến thế kỷ thứ IX; phong cách Ðồng Dương từ giữa thế kỷ IX; phong cách Mỹ Sơn và chuyển tiếp giữa Mỹ Sơn và Bình Ðịnh; phong cách Bình Ðịnh… Trong nhiều công trình kiến trúc còn lại khi phát hiện (1898) có tháp cao tới 24m, trong khu vực Tháp Chùa mà các sách khảo cổ, nghiên cứu về Mỹ Sơn có ký hiệu là tháp cổ Chăm Pa, có 2 của ra vào phía Ðông và phía Tây. Thân tháp cao, thanh tú với một hệ thống cột ốp. Xung quanh có 6 tháp phụ, toàn bộ ngôi tháp 2 tầng toả ra như cánh sen. Tầng trên, chóp đá sa thạch được chạm hình voi, sư tử, tầng dưới, mặt tường là hình những người cưỡi voi, hình các thiên nữ thuỷ quái. Nhưng ngôi tháp giá trị này đã bị không lực mỹ huỷ hoại trong chiến tranh, năm 1969.
Sau khi phát hiện ra khu tháp cổ Mỹ Sơn, nhiều hiện vật tiêu biểu trong đó đặc biệt là những tượng vũ nữ, các thần linh thờ phượng của dân tộc Chăm, những con vật thờ cũng như những cảnh sinh hoạt cộng đồng đã được đưa về thành phố Ðà Nẵng xây dựng thành bảo tàng kiến trúc Chămpa. Tuy không phải là nhiều, nhưng những hiện vật này là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc tiêu biểu, nó có giá trị văn hoá của một dân tộc, nhưng hơn thế nữa, có là những chứng tích sống động, xác thực lịch sử của một trong những dân tộc trong cộng đồng Việt Nam giàu truyền thống văn hoá.

Đôi nét về các Triều đại Vua Hùng

Nhân bài viết Trống đồng Đông Sơn - Dấu ấn của các Vua Hùng, đúng dịp tác giả sưu tầm được tài liệu về Vua Hùng Vương nên muốn được chia sẻ cùng mọi người.

vua hùng, hùng vương, văn hóa việt nam, danh nhân việt nam
Hùng Vương
Thủy tổ dân tộc Việt Nam, họ Hồng Bàng dựng nước, 18 đời đều xưng hiệu Hùng Vương: (theo Hùng triều ngọc phả và Thiên Nam bảo lục diễn ca).

1. Kinh Dương Vương Lộc Tục (X. Lộc Tục), tôn dâng miếu hiệu Hùng Dương.
2. Lạc Long Quân Sùng Lâm (X.Sùng Lâm) thụy hiệu Hùng Hiền.
3. Hùng Lân
4. Hùng Việp
5. Hùng Hi
6. Hùng Huy
7. Hùng Chiêu
8. Hùng Vĩ
9. Hùng Định
10. Hùng Hi
11. Hùng Trinh
12. Hùng Võ
13. Hùng Việt
14. Hùng Anh
16. Hùng Tạo
17. Hùng Nghị
18.Hùng Duệ

Hiệu nước khi ấy là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu ( thuộc huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Phú ngày nay). Toàn lãnh thổ chia làm 15 bộ: Văn Lang, Châu Diên, Phúc Lộc, Tân Hưng, Võ Định, Võ Ninh, Lục Khải, Ninh Hải, Dương Tuyền, Giao Chỉ, Cửu Chân, Hoài Nam,Cửu Đức, Việt Thường và Bình Văn.

Về danh hiệu Hùng Vương, gần đây có nhiều học giả cho rằng chữ Lạc đã chép sai ra Hùng, nên phải gọi là Lạc Vương thay vì Hùng Vương.

Đến nay di tích hãy còn trên đỉnh Hùng Sơn, cách Hà Nội 97 cây số, cũng gọi là núi Đền, là Nghĩa Lĩnh hay Nghĩa Cương. Bia đề 4 chữ to" Cao sơn cảnh Hùng".

Nơi đền thượng, phía ngoài nêu 4 chữ "Nam thiên triệu tô". Gian giữa, tấm hoành lớn ghi "Hùng Vương miếu. Trên bàn thờ có ba bài vị, bài vị chính ghi "Khai quốc hồng đồ, đột ngột cao sơn cổ Việt Hùng thị, thập bát thế thánh vương": Mười tám đời vua thánh dòng Hùng nước Việt xưa, non cao chất ngất nên sự nghiệp to mở nước.

Hai cột chính giữa điện có đôi câu đối:

"Thiên địa trường tồn, ức vạn niên do truyền quốc tổ;

"Tinh thần bất hủ, thập bát thế giai điệu Hùng Vương"

(Trời đất con dài, ức muôn năm vẫn truyền là quốc tô;

Tinh thần không diệt, mười tám đời, đều mang hiệu Hùng Vương).

Trong đền có rất nhiều câu đối chữ Nôm và chữ Hán. Về chữ Nôm có hai câu đối đáng chú ý:

"Vật đổi sao dời, phúc tổ vẫn lưu nền cổ tích;

Nước nguồn cây cội, đạo người nên nhớ mộ Hùng Vương

Về chữ Hán, đôi câu đối sau đây bút pháp thần tình:

"Vấn lai dĩ sự tu vi sử;

Tế dục dư đồ dục mệnh thi."

(Hỏi lại chuyện xưa nên chép sử ;

Xem rành đồ bản muốn đề thơ)

Có người cho đôi câu đối ấy là của chúa Tĩnh đô vương Trịnh Sâm cách nay hơn 200 năm .

Đến nay, toàn dân đã công nhận ngày 10 tháng 3 âm lịch là ngày giỗ Quốc tổ của nhân dân ta.
 
Liên kết : Fanpage | Google+ | Twitter
Copyright © 2013. Test Blogger - All Rights Reserved
Designed by Thanh Vaga Published by Vẻ đẹp Việt Nam
Proudly powered by Blogger